Kinh tế – Xã hội

KINH TẾ  

Tốc độ tăng trưởng GRDP: Tốc độ tăng trưởng bình quân 22 năm (1997-2019): 14,66%/năm

Quy mô tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP 2019): 118,398 nghìn tỷ đồng, tương đương khoảng 5,05 tỷ USD

GRDP bình quân đầu người:  đạt 102,5 triệu đồng/người/năm (năm 2019)

Cơ cấu kinh tế (năm 2019):

Công nghiệp – Xây dựng:  62,41%

Thương mại – Dịch vụ:      30,22%

Nông lâm thuỷ sản (%):     7,37%

Kim ngạch xuất – nhập khẩu  năm 2019 (tổng giá trị):

Xuất khẩu:  2,56 tỷ USD

Nhập khẩu: 2,95 tỷ USD

Đầu tư trực tiếp trong nước (DDI): tính đến hết 31/12/2019

Số lượng dự án: 758 dự án

Tổng số vốn đầu tư đăng ký:  đạt 91.060,7 tỷ VNĐ

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): tính đến hết 31/12/2019

Số lượng dự án:  387 dự án

Tổng vốn đầu tư đăng ký:  đạt 5,489 tỷ USD

Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI): Năm 2018: Điểm 64,55; xếp hạng 13/63; nhóm điều hành Rất tốt.

XÃ HỘI

Lực lượng lao động:

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên toàn tỉnh năm 2019 là 640.550 người. Trong đó nam giới là 311.700 người (48,66%), nữ giới là 328.850 người (51,34%). Tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2019 đạt 74,2%.

Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc (tại thời điểm 1/7) trong nền kinh tế đã qua đào tạo (có bằng cấp, chứng chỉ theo quy định của Hệ thống giáo dục Quốc dân)  năm 2019 là 25,1%.

Giáo dục và đào tạo:

Giáo dục phổ thông: Năm 2019 trên địa bàn tỉnh có 328 trường phổ thông, với 6.286 lớp, 9.958 giáo viên, 226.771 học sinh. Trong đó có 30.442 học sinh trung học phổ thông, tỷ lệ tốt nghiệp 97,28%.

Trung cấp chuyên nghiệp: Năm 2019, hệ đào tạo trung cấp chuyên nghiệp trên địa bàn tỉnh có 69 giáo viên với 13.957 học sinh, số học sinh tốt nghiệp là 5.132.

Cao đẳng và Đại học:  Năm 2019, hệ đào tạo Cao đẳng và Đại học trên địa bàn tỉnh có 1.280 giáo viên, 38.300 sinh viên, số sinh viên tốt nghiệp là 8.224 sinh viên.

Y tế:

Tính đến hết 2019. Toàn tỉnh có 26 bệnh viện, phòng khám đa khoa khu vực, viện điều dưỡng với 4.158 giường bệnh; 135 trạm y tế xã phường và 04 trạm y tế của cơ quan xí nghiệp với 1.370 giường bệnh.

Nhân lực ngành y tế gồm 4.949 người. Trong đó bác sỹ trở lên là 1.733 người; dược sỹ 374 người; y sỹ, điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật viên là 3.286 người.

Số bác sỹ trên 1 vạn dân: 15,01 người; Số giường bệnh trên 1 vạn dân: 36,01 giường.

Văn hóa, Du lịch:

Vĩnh Phúc là địa phương có nền văn hóa lâu đời, là cái nôi của người Việt cổ với di trỉ khảo cổ học Đồng Đậu nổi tiếng. Trên địa bàn tỉnh có 8 dân tộc chính, đông nhất là dân tộc Kinh chiếm trên 95%, các dân tộc thiểu số như dân tộc Sán Dìu, dân tộc Sán Chay, dân tộc Tày, dân tộc Nùng; dân tộc Dao và một số dân tộc thiểu số khác chiếm gần 5%.

Tỉnh Vĩnh Phúc có nhiều khu du lịch và danh lam thắng cảnh nổi tiếng.  Năm 2015, di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh Tây Thiên (thuộc huyện Tam Đảo) và di tích kiến trúc nghệ thuật Tháp Bình Sơn (thuộc huyện Sông Lô) được Chính phủ Việt Nam công nhận là di tích quốc gia đặc biệt.

Các khu du lịch như: Khu nghỉ mát Tam Đảo với độ cao trung bình gần 1.000m so với mực nước biển (đỉnh cao nhất 1.542m), bao bọc bởi rừng nguyên sinh có rất nhiều động thực vật quý hiếm; 02 sân Golf 18 lỗ ở Vĩnh Yên, Tam Đảo và 01 sân Golf 36 lỗ ở Đại Lải đã từng được Hội Golf Việt Nam tổ chức thi đấu nhiều giải Golf quốc gia và quốc tế; Du lịch sinh thái ở các khu vực hồ, đầm lớn như  Vân Trục, Xạ Hương, Đại Lải, Đầm Vạc; Trung tâm văn hóa Lễ hội Tây Thiên; Các làng nghề truyền thống: Làng gốm Hương Canh, làng rèn Lý Nhân, làng mộc Bích Chu, làng thương mại Thổ Tang.

MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI ĐẾN NĂM 2020 

Đến năm 2020 Vĩnh Phúc trở thành một tỉnh công nghiệp, là một trong những trung tâm công nghiệp, dịch vụ, du lịch của khu vực và của cả nước; nâng cao rõ rệt mức sống nhân dân; môi trường được bảo vệ bền vững; bảo đảm vững chắc về quốc phòng, an ninh; hướng tới trở thành Thành phố Vĩnh Phúc vào những năm 20 của thế kỷ XXI.

Về kinh tế

– Nhịp độ tăng trưởng GRDP (giá so sánh 2010) bình quân đạt 7,0-7,5%/năm, trong đó ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng 3,5-4,0%/năm; ngành công nghiệp – xây dựng tăng bình quân 7,0-7,5%/năm và ngành dịch vụ tăng 10,5-11,0%/năm; thuế sản phẩm khoảng 3%/năm.

– Cơ cấu kinh tế đến năm 2020: Nông – lâm nghiệp – thuỷ sản 7,1%; Công nghiệp – xây dựng: 61,5%; Dịch vụ: 31,4%.

– Quy mô GRDP đến năm 2020 theo giá hiện hành bằng khoảng 1,5-2 lần so với năm 2015.

– GRDP bình quân đầu người (theo giá HH) đạt khoảng 110 triệu đồng, tương đương khoảng 4.800 – 5.000 USD.

– Vốn đầu tư toàn xã hội hàng năm chiếm khoảng 25-30% GRDP (theo giá hiện hành).

– Tỷ lệ thu ngân sách nhà nước so với tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP theo giá HH) hàng năm đạt từ 22-23% GRDP để đến năm 2020 thu ngân sách nhà nước khoảng 26.500-27.000 tỷ đồng.

– Kim ngạch xuất khẩu đến năm 2020 đạt 3- 3,5 tỷ USD.

– Thu hút mới: 1,3-1,5 tỷ USD vốn đăng ký từ các dự án FDI và 14-15 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký từ các dự án DDI.

Về xã hội

– Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt khoảng 76%, trong đó lao động qua đào tạo được cấp chứng chỉ đạt 30-35%.

– Tỷ lệ hộ nghèo bình quân mỗi năm giảm 1-1,5% theo chuẩn mới giai đoạn 2016-2020.

– Huy động 95% trẻ 3-5 tuổi ra lớp mẫu giáo, 100% trẻ 6 tuổi ra lớp 1; duy trì và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ 2; duy trì và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục bậc trung học.

– Phân luồng học sinh sau THCS: 65-70% vào học THPT; 30-35% vào học BTVH và học nghề.

– 100% các trường đạt chuẩn quốc gia: bậc mầm non và tiểu học trước năm 2018; bậc THCS và THPT trước năm 2020.